Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, được hiểu là hành vi thực hiện bắt, tạm giữ, tạm giam người không đúng với quy định của pháp luật.Hiện nay, việc thực hiện hành vi phạm tội ngày càng có chiều hướng gia tăng chủ yếu bắt nguồn từ việc đòi nợ hay thuê đòi nợ, một số vụ việc bắt nguồn từ động cơ, mục đích khác như trả thù cá nhân do mâu thuẫn trong sinh hoạt… Qua bài viết này đội ngũ chuyên viên, Luật sư của văn phòng Luật sư Thủ Đô xin phân tích, bình luận để làm rõ cấu thành tội phạm của tội bắt giữ người trái pháp luật cũng như mức hình phạt của tội này dưới góc nhìn của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

– Thứ nhất, về mặt khách quan của tội bắt giữ người trái pháp luật:

+ Đối với tội bắt người trái pháp luật: Được thể hiện ở hành vi khống chế người khác để tạm giữ hoặc tạm giam họ; Việc khống chế này có thể dùng vũ lực hoặc các biện pháp khác nhau như trói… (sau đó thường là người bị hại bị dẫn về nơi nhất định để tạm giữ hoặc tạm giam);

+ Đối với tội giữ người trái pháp luật: Được thể hiện ở hành vi không cho người bị bắt đi đâu vượt ra ngoài sự kiểm soát của người phạm tội (như bắt ở trong nhà, bắt ngồi tại chỗ…) trong một thòi gian ngắn (thường là dưới 24 giờ).

+  Đối với tội giam (tạm giam) người trái pháp luật: Được thể hiện qua hành vi nhốt người bị bắt vào một nơi trong một thời gian nhất định (như nhốt ở trong buồng, trong trại giam..).

+ Hành vi bắt giữ, hoặc giam ngưòi nêu trên phải trái với pháp luật, đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản. Dấu hiệu trái pháp luật được thể hiện qua các đặc điểm: Người không có thẩm quyền nhưng lại thực hiện việc bắt, giữ, giam người khác hoặc người có thẩm quyền trong việc bắt, giữ hoặc giam người nhưng thực hiện việc bắt, giữ, giam người không đúng quy định của pháp luật.

+ Mục đích của tội này không phải là dấu hiệu bắt buộc, nhưng nếu có tương ứng vói dấu hiệu cấu thành cơ bản của một tội khác, thì người có hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tương ứng đó.

Ví dụ: bắt phụ nữ nhằm mục đích bán thì phạm tội mua bán người; hoặc bắt người trái pháp luật nhưng nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản (đưa ra yêu sách về tài sản đối với người thân của người bị bắt), thì hành vi đó cấu thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.

– Thứ hai, về mặt chủ quan của tội vi phạm quy định về tội bắt giữ người trái pháp luật:

Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý. Mục đích của tội phạm rất đa dạng, có thể là để đòi nợ, nhận tiền thuê đòi nợ, do tư thù cá nhân, do bị xúi giục…Tuy nhiên, mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm này. Song, trong quá trình xem xét mục đích phạm tội kết hợp đánh giá với hành vi khách quan của tội phạm cũng cần chú ý khi định tội danh.

Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử cũng cần xem xét mục đích của việc phạm tội để đưa ra những đánh giá chính xác nhất về việc thực hiện hành vi.

– Thứ ba, về chủ thể của tội bắt giữ người trái pháp luật :

Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể thực hiện hành vi phạm tội, theo quy định của Luật Hình sự họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đó.Chủ thể của tội phạm này phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật Hình sự. Người phạm tội có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.

– Thứ tư, về khách thể của tội bắt giữ người trái pháp luật:

Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nói riêng, quyền tự do, quyền dân chủ của công dân. heo đó, Bộ luật hình sự, Luật xử lý vi phạm hành chính cũng cụ thể hóa về quyền này. Do đó, bất kỳ người nào xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân thông qua hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật thì tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm của cho xã hội đều bị xử lý bằng chế tài hành chính hoặc chế tài hình sự.

Về hình phạt của tội bắt giữ người trái pháp luật, tại Điều 157 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:

– Một là, người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

– Hai là, phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
+ Có tổ chức;
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
+ Đối với người đang thi hành công vụ;
+ Phạm tội 02 lần trở lên;
+ Đối với 02 người trở lên;
+ Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
+ Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;
+ Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

– Ba là, phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
+ Làm người bị bắt, giữ, giam chết hoặc tự sát;
+ Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam;
+ Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.”.

– Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Văn phòng Luật sư Thủ Đô chuyên cung cấp các dịch vụ pháp lý về vấn đề Hôn nhân và gia đình, Doanh nghiệp, Đất đai, Hình sự… Hãy gọi cho Văn phòng Luật sư Thủ Đô theo hotline: 19006197 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc của bạn!